Acid
Citric - C6H8O7 liên hệ Mr
Đường/0946546655
Axít citric
|
|
![]() |
|
![]() |
|
Danh pháp IUPAC
|
Axít 2-hydroxypropan-1,2,3-tricacboxylic
|
Tên khác
|
Axít 3-hydroxypentanedioic axít 3-cacboxylic
Citrat hiđrô,
E330 |
Nhận dạng
|
|
Số
CAS
|
[77-92-9]
|
PubChem
|
311
|
Thuộc tính
|
|
Công
thức phân tử
|
|
Phân
tử gam
|
192,123
g/mol (khan)
210,14 g/mol (monohydrat) |
Bề
ngoài
|
chất
rắn kết tinh màu trắng
|
Tỷ trọng
|
1,665
g/cm³
|
Điểm nóng chảy
|
153 °C |
Điểm sôi
|
phân hủy ở
175 °C |
Độ hòa tan trong nước
|
133
g/100 ml (20 °C)
|
Độ axít(pKa)
|
pKa1=3,15
pKa2=4,77 pKa3=6,40 |
Các nguy hiểm
|
|
Nguy
hiểm chính
|
kích
ứng da và mắt
|
Điểm bắt lửa
|
174 °C
|
Các hợp chất liên quan
|
|
Hợp
chất liên quan
|
citrat natri, citrat canxi
|
Ngoại trừ khi có ghi chú khác, các dữ liệu được lấy
cho hóa chất ở trạng thái tiêu chuẩn (25 °C, 100 kPa) Phủ nhận và tham chiếu chung |
|
Axít citric liên hệ Mr Đường/0946546655
Axít citric hay axít xitric là một axít hữu cơ yếu. Nó là một chất
bảo quản tự nhiên và cũng được sử dụng để bổ sung vị chua cho thực phẩm hay các
loại nước ngọt.
Trong hóa sinh học, nó là tác nhân trung gian quan trọng trong chu trình axít citric và vì thế xuất hiện trong trao đổi
chất của gần như mọi sinh vật. Nó cũng được coi là tác nhân làm sạch tốt về mặt
môi trường và đóng vai trò của chất chống ôxi hóa.
Axít citric tồn
tại trong một loạt các loại rau quả, chủ yếu là các loại quả của chi Citrus.
Các loài chanh có hàm lượng cao axít citric; có thể tới 8% khối lượng khô trong
quả của chúng (1,38-1,44 gam trên mỗi aoxơ nước quả[1]). Hàm lượng
của axít citric trong quả cam, chanh nằm trong khoảng từ 0,005 mol/L đối
với các loài cam và bưởi chùm tới 0,030 mol/L trong các loài chanh. Các
giá trị này cũng phụ thuộc vào các điều kiện môi trường gieo trồng.
Ở nhiệt độ phòng, axít citric là chất bột kết tinh màu trắng. Nó
có thể tồn tại dưới dạng khan (không chứa nước) hay dưới dạng ngậm một phân tử
nước (monohydrat). Dạng khan kết tinh từ nước nóng, trong khi dạng monohydrat
hình thành khi axít citric kết tinh từ nước lạnh. Dạng monohydrat có thể chuyển
hóa thành dạng khan khi nung nóng tới trên 74 °C. Axít citric cũng hòa tan
trong etanol khan tuyệt đối (76 phần axít citric
trên mỗi 100 phần etanol) ở 15 °C.
Về cấu trúc hóa học, axít citric chia sẻ các tính chất của các
axít cacboxylic khác. Khi bị nung nóng trên 175 °C, nó bị phân hủy để giải
phóng điôxít cacbon và nước.
Đo đạc
Axít citric thường được thêm vào nước ngọt, bia, nước seltzer và xuất hiện tự nhiên trong nhiều loại
nước quả. Điều này gây ra vấn đề trong đo lường do kỹ thuật đo đạc chuẩn cho
đường là chiết suất. Chiết suất của đường và axít citric là gần như đồng nhất.
Đối với các dạng nước ngọt và nước cam thì phép đo độ ngọt tốt nhất là tỷ lệ
đường/axít. Gần đây, việc sử dụng các thiết bị nhạy hồng ngoại đã cho phép đo
cả Brix (hàm lượng đường) và độ chua bằng phát
hiện đường và axít citric thông qua các dao động phân tử đặc trưng của chúng và
điều này cho phép đánh giá chính xác hơn độ ngọt của đồ uống.
Sản xuất
Trong kỹ thuật sản xuất này, hiện tại vẫn là công nghệ sản xuất
công nghiệp chính cho axít citric, các mẻ cấy nấm Aspergillus niger được nuôi trong môi trường chứa
sucroza hay glucoza để sinh ra axít citric. Nguồn đường là nước ngâm ngô cô đặc[8], nước rỉ
đường, tinh bột ngôthủy phân hay các dung dịch đường rẻ tiền khác[9].
Sau khi nấm được lọc ra khỏi dung dịch được tạo thành, axít citric được cô lập
bằng kết tủa nó với vôi tôi (hydroxit canxi)
để tạo ra muối citrat canxi, từ đó axít citric được sinh ra bằng xử lý muối này
với axít
sulfuric.
Sử dụng
Năm 2007, tổng sản lượng sản xuất axít citric trên khắp thế giới
là khoảng 1.700.000 tấn. Trên 50% sản lượng này được sản xuất tại Trung Quốc.
Trên 50% được sử dụng như là chất tạo độ chua trong các loại đồ uống và khoảng
20% trong các ứng dụng thực phẩm khác, 20% cho các ứng dụng chất tẩy rửa và 10%
cho các ứng dụng phi thực phẩm khác như hóa mỹ phẩm và
công nghiệp hóa chất.
Phụ gia thực phẩm
Trong vai trò của một phụ gia thực phẩm, acid
citric được sử dụng
như là chất tạo
hương vị và chất bảo quản
trong thực phẩm và đồ uống, đặc biệt là các loại đồ uống nhẹ. Nó được ký hiệu
bằng một số E là E330. Các
muối citrat của các kim loại khác nhau được sử dụng để chuyển giao các khoáng
chất này ở dạng có thể sử dụng được về mặt sinh học trong nhiều chất bổ sung dinh dưỡng.
Các tính chất đệm của các citrat được sử dụng để kiểm
soát pH trong các chất tẩy rửa dùng trong gia đình và trong dược phẩm. Tại Hoa
Kỳ, độ tinh khiết của axít citric cần thiết để làm phụ gia thực phẩm được định
nghĩa bởi Food
Chemical Codex (FCC), được
công bố trong Dược điển Hoa Kỳ (USP).
Làm mềm nước
Khả năng của axít citric trong chelat các kim
loại làm cho nó trở thành hữu ích trong xà phòng và các loại bột giặt. Bằng
sự chelat hóa các kim loại trong nước cứng, nó làm cho các chất tẩy rửa này tạo
bọt và làm việc tốt hơn mà không cần phải làm mềm nước. Theo kiểu tương tự,
axít citric được dùng để tái sinh các vật liệu trao đổi ion dùng trong các chất làm mềm nướcbởi
nó kết tủa các ion kim loại đã tích lũy như là các phức chất citrat.
An toàn
Axít citric được hầu hết các quốc gia và tổ chức quốc tế công
nhận là an toàn để sử dụng trong thực phẩm. Nó hiện diện tự nhiên trong gần như
mọi dạng sự sống, các lượng axít citric dư thừa dễ dàng trao đổi và bài tiết ra
khỏi cơ thể. Tuy nhiên, việc tiếp xúc với axít citric khô hay đậm đặc có thể
gây ra kích ứng da và mắt, vì thế bảo hộ lao động nên được sử dụng khi tiếp xúc
với axít citric. Việc sử dụng quá nhiều axít citric cũng dễ làm tổn hại men
răng[16]. Tiếp xúc gần với mắt có thể gây bỏng và làm mất thị giác.
Đôi khi hàm lượng quá cao axít citric có
thể gây tổn hại cho tóc, do nó mở lớp cutin của tóc. Nó có thể làm mất các chất
cần thiết cho tóc và làm tóc bị bạc màu.




Nhận xét